Chia sẻ kinh nghiệm

Khái niệm bảo dưỡng phòng ngừa ( preventive maintenance) được hình thành từ Mỹ vào năm 1951. Trước đó, các công ty chỉ thực hiện bảo dưỡng sửa chữa ( breakdown maintenance), tức là công việc bảo dưỡng chỉ được thực hiện sau khi có sự cố hỏng hóc xảy ra. Phương pháp bảo dưỡng phòng ngừa đã giúp các công ty giảm sự cố, hỏng hóc thiết bị một cách đáng kể, do đó nó được áp dụng và chấp nhận rộng rãi vào thời điểm này.

Chuyên gia tài chính Huỳnh Bửu Sơn bàn về gói kích cầu qua lãi suất của Việt Nam cùng những biện pháp kèm theo cần thiết để có thể vừa kích thích nền kinh tế, vừa ngăn lạm phát tái phát

Hoạt động bảo dưỡng xuất hiện khi bắt đầu giai đoạn sản xuất công nghiệp. Cùng với xu hướng công nghiệp hóa, hoạt động bảo dưỡng đã trải qua những giai đoạn phát triển khác nhau, từ bị động đến chủ động với các loại hình bảo dưỡng chủ yếu như sau:

Quản lý chất lượng toàn diện là cách tiếp cận về quản lý chất lượng ở mọi

công đoạn nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả chung của doanh nghiệp hay của

tổ chức.TQM là cách quản lý một tổ chức tập trung vào chất lượng dựa vào sự

tham gia của tất cả các thành viên nhằm đạt tới sự thành công lâu dài nhờ thỏa mãn

khách hàng và đem lại lợi ích cho các thành viên.

 Đến nay, đã có nhiều người luận về tương lai nước Nhật. Nhưng trong đó người ta mô tả hình ảnh đen tối đang tới dần đó là lớp người cao tuổi ngày càng tăng. Người ta dự đoán vài năm nữa, 3 người trẻ tuổi sẽ nuôi 1 người già, điều dự đoán chắc chắn sẽ đúng. Tuy nhiên chúng ta không mấy lo lắng về điều này vì hai lý do như sau:

1.   TPM là gì?
TPM là chữ viết tắt tiếng Anh của Total Productive Maintenance, tiếng Việt gọi là duy trì hiệu suất thiết bị tổng thể. Mỗi từ tiếng Anh này thể hiện ý nghĩa như sau:

 Chắc hẳn mọi người vẫn còn nhớ sự kiện viên phi công của Nga lái chiếc Mig 25 đáp xuống thành phố Haikodate vùng Hokkaido xin tị nạn. Máy bay này có tốc độ rất nhanh, gần 3 mach(tốc độ âm thanh), xuất hiện lần đầu trong chiến tranh Trung Đông.

Sứ mệnh là một phát biểu có giá trị lâu dài về mục đích. Nó phân biệt doanh nghiệp này với những doanh nghiệp khác. Có thể gọi là phát biểu của một doanh nghiệp về triết lý kinh doanh, những nguyên tắc kinh doanh, những sự tin tưởng của công ty. Là bước đầu tiên của quản trị chiến lược.
Tất cả những điều đó xác định khu vực kinh doanh của doanh nghiệp, cụ thể là loại sản phẩm, dịch vụ cơ bản, những nhóm khách hàng cơ bản, nhu cầu thị trường, lĩnh vực kỹ thuật hoặc là sự phối hợp những lĩnh vực này. Theo PETER DRUKER cho rằng việc đặt câu hỏi “ công việc kinh doanh của chúng ta là gì?” đồng nghĩa với câu hỏi ‘’sứ mạng (nhiệm vụ) của chúng ta là gì?”.

Không còn phải tranh cãi về việc thế giới đang rơi vào suy thoái nữa. Câu hỏi duy nhất hiện nay là suy thoái sẽ kéo dài bao lâu và mức độ nghiêm trọng như thế nào: theo kiểu những năm 1930 hay những năm 1970? Nhưng kinh doanh tồi tệ không có nghĩa là nó sẽ bị dừng hoàn toàn. Giống như cây cối tự làm mới chính mình trong một mùa đông băng giá, thì nền kinh tế cũng thường làm điều tương tự trong suốt cuộc biến động kéo dài. 

Thông thường, có hai phương pháp truy tìm nguyên nhân phát sinh hàng xấu. Lý giải được hai phương pháp này thì ai cũng có thể phát hiện được nguyên nhân dễ hơn mình nghĩ.
 

           Tiến sĩ NIISHIHORI, nguyên đội trưởng đội thám hiểm Nam cực mùa đông, người có nhiều đóng góp vào nền quản lý chất lượng của Nhật Bản thời kỳ đầu. Sau khi ở Nam cực về, ông đã nhận chức điều hành Viện nghiên cứu năng lượng nguyên tử lúc đó đang được xây dựng.

Đây là câu chuyện ở phòng bảo vệ của một công ty. Cũng giống như cổng ra vào cửa xưởng các công ty khác, công ty này cũng có bảo vệ trông coi xe và khách ra vào. 

Chúng ta không thể biết trên trái đất này có bao nhiêu loài sinh vật đang sống, nhưng trong đó chỉ có con người là tạo nên nền văn minh như ngày nay.